GIẶC NHÀ NGUYÊN (phần 2 )
(1284-1288)
1. Nguyên-chủ định khởi binh phục thù
2. Thoát Hoan sang đánh lần thư hai
3. Trận Vân-đồn Trần khánh Dư cướp lương của quân Nguyên
4. Trận Bạch-đằng-giang Ô mã Nhi phải bắt
5. Hưng-đạo-vương đại phá Nguyên-binh
6. Sứ An-nam sang Tàu xin hòa
7. Định công, phạt tội
8. Định cuộc hòa-hiếu
1. NGUYÊN-CHỦ ĐỊNH KHI BINH PHỤC THÙ.
Hưng-đạo-vương Trần quốc
Tuấn phá được quân Nguyên rồi thì kéo quân về Tràng-an, rước Thượng-hoàng và
Nhân-tông ra Thăng-long. Giang-sơn nhà
Trần lại khôi phục đâu vào đấy cả. Bọn
Thoát Hoan bại trận về Tàu, nghĩ khi đi thì thanh-thế lừng-lẫy bao nhiêu, khi
về thì hao binh tổn tướng, lấy làm xấu hổ lắm.
Định xin Nguyên-chủ cho thêm binh-mã sang đánh báo thù.
Nguyên-chủ thấy bọn Thoát
Hoan bại trận về, giận lắm, muốn bắt chém cả, nhưng quân-thần can-ngăn mãi mới
thôi.
Bấy giờ nhà Nguyên đang sắp
sửa cất quân sang đánh Nhật-bản, bèn lập tức đình việc đi đánh Nhật-bản lại và
sai đóng thêm 300 chiếc thuyền, truyền hịch cho ba tỉnh Giang-hoài, Hồ-quảng,
Giang-tây tụ tập quân-sĩ, định đến tháng tám thì cất quân noi đường châu Khâm,
châu Liêm sang đánh nước Nam để báo thù.
Quan tỉnh Hồ-nam là Tuyến Kha
dâng sớ về can rằng: "Quân ta bại
trận mới về, kẻ mang dấu-vết chưa khỏi, người đau-yếu chưa dậy, xin hãy cho
quân-sĩ nghỉ-ngơi dưỡng sức ít lâu, rồi sẽ định kế xuất chinh".
Vua nhà Nguyên nghe lời, cho
quân-sĩ nghĩ vài tháng. Còn Trần ích
Tắc đã theo Thoát Hoan về Tàu, thì cho ra ở Ngạc-châu.
Nhân-tông nghe tin
Nguyền-triều sắp sửa cất quân sang đánh An-nam, bèn vời Hưng-đạo-vương vào hỏi
rằng: "Thoát Hoan bại trận trở về,
chuyến này căm-tức định sang đaánh báo thù, quân-thế hẳn to hơn trước, ta nên
dùng kế gì mà chống lại được?"
Hưng-đạo-vương tâu rằng:
"Nước ta xưa kia, quân-dân hưởng thái-bình đã lâu, không tập đến
việc chiến-trận, cho nên năm trước quân Nguyên vào cướp còn có kẻ trốn-tránh
theo hàng-giặc. May nhờ có oai-linh
Tổ-tông, và thần-võ của Bệ-hạ, đi đến đâu đánh được đến đấy, cho nên mới quét
sạch được bờ-cõi. Còn như bây giờ quân
ta quen việc chinh-chiến, mà quân nghịch thì đi xa mỏi-mệt. Vả lại thấy Toa Đô, Lý Hằng, Lý Quán tử
trận, tất cũng chột dạ, quân-tình đã sinh nghi-sợ, hẳn không dám hết sức mà
đánh. Cứ như ý tôi, thì chuyến này dù
có quân Nguyên sang đây, ta phá cũng dễ hơn phe trước, xin bệ-hạ đừng lo".
Nhân-tông mừng rỡ, sai
Hưng-đạo-vương đốc-suất các vương-hầu, mộ thêm quân-sĩ, sử-sang khí-giới để
phòng việc công thủ.
2. THOÁT HOAN SANG ĐÁNH LẦN THỨ HAI.
Sang mùa xuân tháng hai năm đinh-hợi (1287) Nguyên-chủ kén lấy 7
vạn quân, 5 trăm chiếc thuyền, 6 nghìn quân Vân-nam và 1 vạn 5 nghìn quân ở bốn
châu ngoài bể, sai Thoát Hoan làm Đại-nguyên-súy, A bát Xích làm
Hành-tỉnh-tả-thừa, Áo lỗ Xích làm
Bình-chương-chính-sự, Ô mã Nhi, Phàn Tiếp làm Tham-tri chính-sự, đem tất cả hơn
30 vạn quân sang đánh nước Nam, giả danh đưa Trần ích Tắc về nước, lập làm
An-nam quốc-vương. Lại sai Vạn-hộ
Trương văn Hổ theo đường bể tải hơn 17vạn thạch lương sang cấp cho quân-sĩ.
Qua tháng mười một, Thoát
Hoan dẫn quân noi đường Châu-khâm, châu Liêm đến châu Tư-minh; sai bọn Trương
Ngọc lĩnh 2,000 quân coi việc chở lương-thực, khí-giới lại sai Trình bằng Phi,
Áo lỗ Xích, mỗi người dẫn 1 vạn quân đi đường bộ; Ô mã Nhi, Phàn Tiếp suất lĩnh
thủy-quân đi đường bể, đều tiến sang An-nam.
Quan Trấn-thủ ở biên-thùy phi
báo về Thăng-long. Các quan xin tuyển
thêm binh. Hưng-đạo-vương nói
rằng: "Binh cốt giỏi, chứ không
cốt nhiều, nếu nhiều mà không giỏi, thí-dụ như Bồ Kiên có trăm vạn quân cũng
không ích-gì!"
Nhân-tông sai Hưng-đạo-vương
thống-lĩnh các vương-hầu, chia quân phòng-giữ các nơi.
Hưng-đạo-vương sai Trần nhật
Duật, Nguyễn Khoái dẫn 3 vạn quân lên giữ mặt Lạng-sơn; sai Trần quốc Toản, Lê
phụ Trần dẫn 3 vạn quân và giữ mặt Nghệ-an; tự mình thống đại quân ra giữ mặt
Quảng-yên. Một mặt sai tiền-quân lên
gần châu Tư-minh chia ra đóng làm ba đồn:
Sa, Từ, Trúc, để chống-giữ quân Nguyên; một mặt sai tướng đem quân ra
giữ chặt cửa sông Đại-than(thuộc Hải-dương) còn đại-quân của Hưng-đạo-vương thì
đóng lại núi Phù-sơn.
Quan quân tuy đóng giữ như
vậy, nhưng quân Nguyên thế to lắm, chống không nổi, phải rút về Vạn-kiếp; Thoát
Hoan tiến lên chiếm giữ núi Phả-lại và núi
Chí-linh, lập trại chống nhau với quân ta, rồi sai tướng là Trình bằng
Phi đem hai vạn lính đánh lấy đồn Vạn-kiếp, lại sai Ô mã Nhi và A bát Xích dẫn
quân từ sông Lục-đầu đánh xuống sông Hồng-hà.
Hưng-đạo-vương rút quân về
giữ Thăng-long và sai tướng rước xa-giá tạm lánh về Hám-nam (?).
Nhưng sau khi bị bọn Ô mã Nhi
đuổi ngặt quá, Thượng-hoàng và Nhân-tông phải xuống thuyền ra bể đi vào
Thanh-hóa.
Ô mã Nhi đuổi không kịp, đem
quân trở về qua Long-hưng (phủ Tiên-hưng, Thái-bình) biết ở đấy có Thiên-lăng,
là lăng tổ nhà Trần, bèn sai quân đến phá nát cả đi.
Thoát Hoan đem binh-mã tiến
lên vây đánh Thăng-long không được, phải rút về giữ Vạn-kiếp, Chí-linh và
Phả-lại, Hưng-đại-vương cũng tiến quân lên lập trại để chống với giặc.
Nhân-tông thấy quân Nguyên đã lùi rồi bèn rước Thượng-hoàng ra Bắc.
3. TRẬN VÂN-ĐỒN:
Trần khánh
Dư cướp lương của quân Nguyên. Quân
Nguyên đóng mãi ở Vạn-kiếp lương-thực sắp cạn, Thoát Hoan bèn sai Ô mã Nhi dẫn
thủy-quân ra cửa bể Đại-bàng (huyện Nghi-dương, Hải-dương)đón thuyền lương của
Trương văn Hổ. Ô mã Nhi đem thuyền đi
đến ải Vân-đồn (Vân-hải, Quảng-yên) gặp quân của Nhân-huệ-vương Trần khánh Dư
chặn đường không cho đi. Ô mã Nhi thúc
quân đánh rát một trận, quân Khánh Dư thua bỏ chạy cả. Quân Nguyên kéo thẳng ra bể đi đón thuyền
lương.
Thượng-hoàng nghe tin
thủy-quân ở Vân-đồn bại trận, cho sứ ra bắt Khánh Dư về hỏi tội.
Khánh Dư từ khi thất trận,
đang nghĩ kế phục binh thù, bỗng thấy sứ ra bắt, Khánh Dư tiếp sứ rồi nói
rằng: "Tôi sai tướng-lệnh đành
thôi chịu tội, nhưng xin khoan cho tôi một vài hôm, may mà tôi lập được công
khác để chuộc tội chăng?"
Được mấy hôm Ô mã Nhi ra bể
gặp thuyền lương của Trương văn Hổ, lại đem quân trở vào đi trước dẹp
đường. Trương văn Hổ đem thuyền lương
theo vào sau.
Khánh Dư đồ rằng Ô mã Nhi đã
phá được quân ta, trong bụng hắn chắc rằng không còn ai ngăn-trở gì nữa, cho
nên mới khinh thường đem binh thuyền đi trước.
Khánh Dư bèn nhặt-nhạnh thuyền-bè phục quân sẵn đợi thuyền lương của
Trương văn Hổ đến thì kéo ra đánh.
Quả-nhiên Trương văn Hổ tải
các thuyền lương vào cửa bể Lục-thủy-dương (phía đông-nam huyện Hoành-bồ tức là
vịnh cửa Lục bây giờ). Khánh Dư đổ quân
ra đánh.Trương Văn Hổ địch không nổi, bao
nhiêu thuyền lương bị quân của Khánh Dư phá cướp mất cả, và bắt được khí giới
rất nhiều. Còn Trương văn Hổ thì chạy
xuống chiếc thuyền nhỏ trốn về Quỳnh-châu.
Khánh Dư thắng trận đưa thư
về báo tiệp. Thượng-hoàng mừng rõ, xá
tội trước không hỏi, và bảo Hưng-đạo-vương rằng: "Quân Nguyên cốt trông cậy có lương-thảo khí-giới, nay đã bị
ta cướp được cả rồi, thì thế nó không tràng-cửu được nữa. Nhưng nó chưa biết tất còn đắc chí, vậy ta
nên tha những quân bị bắt cho về báo tin với Thoát Hoan, thì quân-sĩ của nó tất
ngã lòng, bấy giờ mới phá rất dễ".
Hưng-đạo-vương tuân lệnh, cho
lũ quân Nguyên về. Từ đấy quân của
Thoát Hoan xôn-xao, có bụng muốn về Tàu, mà lương-thực một ngày một cạn.
Ô mã Nhi từ khi ở ải Vân-đồn trở về, chờ mãi không thấy thuyền lương đến, bèn đem quân đến phá trại An-hưng (thuộc Quảng-yên) rồi rút về Vạn-kiếp.
4. TRẬN BẠCH-ĐẰNG-GIANG:
Ô
mã Nhi phải bắt. Quân Nguyên từ khi
thua trận Vân-đồn, lương-thảo một ngàymột cạn đi, Thoát Hoan muốn cho người về
Tàu cầu viện và lấy thêm lương, Hưng-đạo-vương biết ý, sai tướng lên giữ núi Kỳ-cấp
và ải Nữ-nhi ở mặt Lạng-sơn không cho người Tàu đi lại.
Các tướng thấy vậy bèn vào
bàn với Thoát Hoan rằng: "Quân ta
đóng ở đây, thành-trì đã không có, kho-tàng lại cạn cả; và bây giờ là đang lúc
hết xuân sang hạ, khí trời nồng-nực, mà lại những chổ hiểm-yếu đều mất cả, chi
bằng hãy rút quân về, rồi sau sẽ liệu kế khác".
Thoát Hoan thấy quân thế của
Hưng-đạo-vương mạnh lắm, chưa có thể phá được, bèn nghe lời các tướng, sai Ô mã
Nhi, Phàn Tiếp dẫn thủy-quân theo đường sông Bạch-đằngvề trước. Còn mặt bộ thì sai Trình bằng Phi, Trương
Quân dẫn binh đi chặn hậu. Sửa-soạn
định vài hôm nữa thì rút về.
Hưng-đạo-vương biết mưu ấy,
bèn sai Nguyễn Khoái dẫn binh lẻn qua đường tắt mé sông thượng-lưu sông
Bạch-đằng, kiếm gỗ đẽo nhọn bịt sắt đóng khắp giửa giòng sông, rồi phục binh
chờ đến lúc nào nước thủy-triều lên thì đem binh ra khiêu-chiến, nhử cho thuyền
giặc qua chỗ đóng cọc. Hễ lúc nào nước
thủy-triều xuống thì quay binh lại hết sức mà đánh. Lại sai Phạm ngũ Lão, Nguyễn chế Nghĩa dẫn quân lên phục ở ải
Nội-bàng (thuộc Lạng-sơn) chờ quân Nguyên chạy lên đến đấy thi đổ ra mà đánh.
Các tướng đi đâu đấy cả
rồi. Hưng-đạo-vương tiến quân lên đánh
giặc, sực nghe tin báo rằng Ô mã Nhi đã kéo quân về đến Bạch-đằng,
Hưng-đạo-vương mới hô quân-sĩ , trỏ sông Hóa-giang mà thề rằng: "Trận này không phá xong giặc Nguyên,
thì không về đến sông này nửa!"
Quân-sĩ ai nấy đều xin quyết chiến, kéo một mạch đến sông Bạch-đằng.
Những chiến-thuyền của Ô mã
Nhi, Phàn Tiếp theo giòng sông Bạch-đằng, bỗng chốc thấy tướng nhà Trần là
Nguyễn Khoái dẫn chiến thuyền đến khiêu-chiến.
Ô mã Nhi tức giận thúc quân xông vào đánh, Nguyễn Khoái liền quay thuyền
chạy. Bấy giờ đang lúc thủy-triều lên,
mặt nước mênh-mông, Ô mã Nhi vô tình, thấy địch quân chạy, cứ việc thúc thuyền
đuổi theo.
Nguyễn Khoái nhử quân đi khỏi
xa chỗ đóng cọc, rồi mới quay thuyền đánh vật lại. Hai bên đánh đang hăng, thì đại quân của Hưng-đạo-vương tiếp
đến. Ô mã Nhi, Phàn Tiếp thấy quan quân
to thế lắm, mới quay thuyền chạy trở lại.
Khi chạy đến khúc sông có cọc đóng thì nước thủy-triều đã rút xuống,
thuyền của quân Nguyên vướng mắc phải cọc, đổ nghiêng đổ ngửa, đắm vở mất
nhiều. Quan quân thừa thắng đánh cực
hăng, quân Nguyên chết như rạ, máu loang đỏ cả khúc sông. Tướng Nguyên là Ô mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ,
Cơ Ngọc đều bị bắt cả.
Trận Bạch-đằng-giang đánh vào tháng ba năm mậu-tí (1288) lấy được chiến thuyền của quân Nguyên hơn 400 chiếc và bắt được quân-sĩ rất nhiều.
5. HƯNG-ĐẠO-VƯƠNG ĐẠI PHÁ NGUYÊN-BINH.
Thoát Hoan nghe tin quân thủy vở tan rồi, dẫn bọn Trình bằng Phi,
A bát Xích, Áo lỗ Xích, Trương Quân, Trương Ngọc, đi đường bộ chạy về đến ải
Nội-bàng, bỗng gặp quân phục của Phạm ngũ Lão đổ ra đánh. Các tướng hết sức giữ gìn Thoát Hoan, vừa
đánh vừa chạy. Trương Quân dẫn 3,000
quân đi đoạn hậu cố sức đánh lấy đường chạy, bị Phạm ngũ Lão chém chết. Thoát Hoan chạy thoát ra được cửa ải,
quân-sĩ mười phần, tổn hại mất 5, 6 phần.
Bọn Thoát Hoan đang đi, bỗng
lại có tin báo rằng tự cửa ải Nữ-nhi đến mãi núi Kì-cấp hơn 100 dặm, chổ nào
cũng có đồn ải. Nghe tin ấy quân-sĩ đều
xôn-xao sợ-hãi, và mé sau lại nghe tiếng ầm-ầm quan quân đuổi theo và sắp kéo
đến. Thoát Hoan vội-vàng sai A bát
Xích, Trương Ngọc dẫn quân đi trước mở đường, Áo lỗ Xích đi đoạn hậu.
A bát Xích, Trương Ngọc gặp
phải quan quân chặn đường phục ở hai bên sườn núi bắn tên thuốc độc xuống như
mưa. Hai tướng đều tử trận, và quân-sĩ
chết thây nằm ngổn-ngang từng đống. Còn
Trình bằng Phi hết sức giữ-gìn Thoát Hoan chạy ra Đan-kỹ, qua Lộc-châu rồi đi
lẻn con đường tắt về châu Tư-minh.
Áo lỗ Xích đi sau, chạy thoát
được, mới nhặt-nhạnh tàn quân theo cả Thoát Hoan về Yên-kinh.
Hưng-đạo-vương chuyến này
thực là trừ hết quân Mông-cổ mới hội cả tướng, dẫn quân rước xa-giá
Thượng-hoàng và Nhân-tông về kinh-sư.
Khi về đến Long-hưng, Nhân-tông đem bọn tướng Nguyên bị bắt là Ô mã Nhi,
Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc vào làm lễ hiến-phù ở trước Chiêu-lăng.
Nhân thấy giang-sơn lại được
như cũ, Thánh-tông Thượng-hoàng có làm hai câu thơ để làm kỹ-niệm:
Xã-tắc lưỡng
hồi lao thạc mã,
Sơn-hà thiên
cổ điện kim âu.
Dịch nôm:
Xã-tắc hai
phen bọn ngựa đá,
Non sông
thiên cổ vững âu vàng.
Về đến Thăng-long vua sai mở tiệc khao thưởng tướng-sĩ, cho dân-sự mở hội vui-vẻ ba ngày, gọi là Thái-bình diên-yến.
6. SỨ AN-NAM SANG TÀU XIN HÒA.
Quân nhà Nguyên sang đánh An-nam tuy thua hai ba phen thật, nhưng thế
nhà Nguyên vẫn mạnh lắm, mà nước Nam ta sánh với nước Tàu lại là một nước
nhỏ-mọn, cô-lập một mình, không nương tựa vào đâu được; nếu cứ tranh chiến mãi
thì sự thắng-bại chưa biết ra thế nào, mà muôn dân lại phải lầm-than,
khổ-sở. Vì những lẽ ấy, cho nên đến
tháng mười năm mậu-tí (1288) vua Nhân-tông sai quan là Đỗ thiên Thứ sang sứ nhà
Nguyên, xin theo lệ cống hiến như xưa.
Nguyên-chủ thấy quân mình
thua mấy lần rồi, trong bụng cũng nản, cho nên cũng thuận cho thông hòa.
Tháng hai năm kỷ-sửu (1289)
Nhân-tông sai quan đưa bọn tướng Nguyên bị bắt là Tích Lệ, Cơ Ngọc về Tàu. Còn Phàn Tiếp vì lo mà thành bệnh chết, vua
sai hỏa táng, rồi cấp người ngựa cho vợ con đem hài-cốt về nước. Các đầu mục cũng tha cho về cả. Duy có Ô mã Nhi giết hại nhiều người, vua
căm-tức vô cùng, không muốn tha về, nhưng lại ngại đường hòa-hiếu, bèn dùng mưu
của Hưng-đạo-vương sai người đưa đi đến giửa bể, đánh đắm thuyền, cho chết
đuối, mà Nguyên-triều cũng không trách vào đâu được. Về sau vua Dực-tông bản triều nhà Nguyễn xem đến chỗ này, có phê
bốn chữ: "bất nhân phi
nghĩa". Tưởng lời phê ấy cũng là
chính đáng.
7. ĐỊNH CÔNG, PHẠT TI.
Tháng
tư năm kỷ-sửu (1289) mới định công, phạt tội.
Bao nhiêu những vương hầu đi đánh giặc Nguyên có công đều được thăng
trật cả, còn các tướng-sĩ khác họ mà ai có công to thì cho quốc-tính. Nguyễn Khoái được phong tước hầu, cho ăn lộc
một làng Khoái-lộ (tức là phủ Khoái bây giờ); Phạm ngũ Lão được thăng làm Quản
Thánh-dực quân.
Các chúa Mường mà có công đem
dân binh ra cự giặc cũng được phong hầu.
Vua lại sai văn-thần ghi-chép
công-trạng của các tướng hợp biên làm quyển sách gọi là Trung hưng thực lục và
lại sai thợ vẽ tranh các tướng để treo ở gác công thần.
Định công xong rồi mới xét
đến tội những người hàng giặc. Khi quân
Nguyên đang cường thịch, triều thần lắm kẻ hai lòng, có giấy-má đi lại với
giặc. Sau giặc thua chạy về bắc,
triều-đình bắt được tráp biểu hàng của các quan. Đinh-thần muốn lục ra để trị tội, nhưng Thượng-hoàng nghĩ rằng
làm tội những đồ tiểu-nhân cũng vô ích, bèn sai đem đốt cả tráp đi, cho yên
lòng mọi người. Duy những người nào quả
thực là hàng với giặc, thì mới trị tội; hoặc đem cày, hoặc xử-tử. Vì thế bọn Trần Kiện, Trần văn Lộng tuy đã
chết rồi, nhưng con cháu phải tước họ tôn-thất đổi ra họ Mai. Còn Trần ích Tắc, thì vua nghĩ tình cận-thân
không nở bỏ họ, nhưng phải gọi là ả Trần, nghĩa là bảo nhút-nhát như đàn-bà
vậy.
Những quân-dân thì được thứ
tội cả, duy có hai làng Bàng-hà, Ba điểm trước hết theo giặc, cả làng phải đồ
làm binh-lính, không khi nào được làm quan.
Thưởng công, phạt tội xong
rồi, Thượng-hoàng về phủ Thiên-trường, đến tháng năm, năm canh-dần (1290) thì
mất.
Nhân-tông sai sứ sang cáo tang và xin phong.
8. ĐỊNH CUC HÒA-HIẾU.
Tự lúc
Thoát Hoan thua về, vua nhà Nguyên đã thuận cho hòa-hiếu, nhưng trong bụng vẫn
chưa nguôi giận, ý lại muốn cất binh sang đánh báo thù. Đình-thần can, xin để cho sứ sang dụ vua
An-nam sang chầu xem đã, nếu không sang rồi hãy liệu. Nguyên-chủ nghe lời, sai Thượng-thư Trương lập Đạo sang sứ
An-nam. Nhưng vua Nhân-tông lấy cớ có
tang không đi. Sai quan là Nguyễn đại
Phạp đi thay.
Nguyễn đại Phạp sang Tàu nói
năm sau vua An-nam sẽ sang chầu.
Qua năm sau Nguyên-triều
không thấy vua An-nam sang, lại sai Lại-bộ thượng-thư là Lương Tằng và Lễ-bộ
thượng-thư là Trần Phu sang giục Nhân-tông sang chầu.
Nhân-tông không đi, sai sứ là
Đào tử Kỳ đưa đồ vật sang cống Tàu.
Nguyên-triều thấy vua An-nam
không sang định khởi binh sang đánh, bèn bắt giam Tử Kỳ ở Giang-lăng, rồi sai
Lưu quốc Kiệt và các tướng sửa-soạn binh-lương, chọn ngày phát binh. Lại sai Trần ích Tắc đi theo, về hội ở Tràng
sa. Nhưng lúc đang sửa soạn, thì Nguyên
Thế-Tổ là Hốt-Tất-Liệt mất, Nguyên Thánh-Tông lên ngôi, mới bãi việc binh và
cho sứ An-Nam là Đào tử Kỳ về nước.
Từ đó nhà Nguyên với nước Nam
thông hòa, không có sự tranh chiến nữa.